Luật doanh nghiệp

Sở hữu trí tuệ

Thuế và kế toán

Công bố TCCL

Giấy phép

Visa - hộ chiếu

Đất đai - thừa kế

Mã số - mã vạch

Báo giá dịch vụ

Trang nhất Home » Trang chủ » Sở hữu trí tuệ » Kiểu dáng công nghiệp

Sở hữu trí tuệ, Tìm hiểu về Luật sở hữu trí tuệ,

  • luật sở hữu trí tuệ

    Tốc độ phát triển kinh tế và xã hội của con người ngày càng nhanh. Thời đại công nghệ thông tin, mạng internet được phổ cập. Kinh doanh trong thời đại này chỉ có thể là kinh doanh chất xám, chất lượng con người được đặt lên hàng đầu, sức sáng tạo và trí tuệ của con người được săn đón chào mời với những mức giá không tưởng. Đơn cử như trường hợp “con chim ngu” flappy bird của Nguyễn Hà Đông vậy, chưa thể xác thực được số tiền thu lợi khổng lồ 5, 10 tỷ mà Hà Đông thu về mỗi ngày mà báo chí đưa tin, nhưng những nhà làm game hẳn đã trải thảm đỏ mời chàng trai tài năng này về, lúc này người ta mới thấy được giá trị thật sự của sự sáng tạo. Xoay quanh vụ ồn ào về giá trị tài sản của Nguyễn Hà Đông người ta còn đặt hàng ngàn câu hỏi về bản quyền. Sở hữu trí tuệ ở đây được các báo mạng đưa ra về cái ống nước màu xanh, con chim. Thế mới hiểu rằng luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam chưa được hiểu rõ đến mức nào. Bài viết dưới đây phần nào giải đáp những điều cơ bản về luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
    1.       Luật sở hữu trí tuệ :
    Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do bị thực dân pháp đô hộ vậy nên sự phát triển của Luật sở hữu trí tuệ đang còn chậm và chưa có nhiều định chế. Mãi đến năm 1957 thì miền Nam Việt Nam mới có Luật thương hiệu, năm 1958 ban hành “Thể lệ về thương hiệu và thương phẩm”. Có thể nói đây là 2 văn bản pháp luật quy định sơ khai về sở hữu trí tuệ tuy nhiên giá trị pháp lý đem lại chưa cao. Sau khi nền kinh tế thị trường mở cửa, Đảng và nhà nước đã thực sự quan tâm đến sở hữu trí tuệ thông qua việc ban hành BLDS 1995 và Nghị định 63/CP về sở hữu công nghiệp (ngày 24/10/1996) và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Sau nhiều năm tổng kết và đúc rút kinh nghiệm. Năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ ra đời, mở đầu cho nền lao động trí thức.

    luật sở hữu trí tuệ
     
    2.       Quyền tác giả
    Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu (định nghĩa theo Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) tức theo phương diện pháp lý được hiểu rằng quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm quy định và bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Hiều một cách đơn giản Quyền tác giả cho phép chủ sở hữu quyền tác giả được độc quyền khai thác tác phẩm, chống lại việc sao chép bất hợp pháp.
    Đặc điểm cơ bản của quyền tác giả:
    -          Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo chứ không bảo hộ nội dung sáng tạo. Điều này được thể hiện tại Điều 6 Luật SHTT như sau  “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.
    -          Tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chước tác phẩm khác, Đặc điểm này được thể hiện tại khoản 3 Điều 14 Luật SHTT như sau “3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác”.
    3.       Quyền sở hữu công nghiệp
    Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. (định nghĩa theo Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ)
    Căn cứ để xác lập quyền sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ như sau :
    a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;
    b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
    c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
    d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
    Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ trong thời gian đã đăng ký bảo hộ.
    Với những đặc điểm trên, sự nhìn nhận về vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã có những bước cải thiện rõ rệt từ sự lập pháp cũng như thi hành. Tuy nhiên để sánh ngang với các cường quốc trên thế giới thì vẫn chưa đủ, sự tham gia vào các công ước, hiệp ước bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là điều cần thiết đối với Việt Nam, nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, sở hữu công nghiệp.

    Tác giả bài viết: Phòng Doanh Nghiệp

    Tổng số điểm của bài viết là: 12 trong 3 đánh giá
    Click để đánh giá bài viết

    Những tin cũ hơn

     

    Thăm dò ý kiến

    Bạn biết tới văn phòng luật VNS ở đâu ?

    Internet

    Báo chí, Tivi

    Có người giới thiệu

    Các nguồn khác

    Tất cả các ý kiến trên

    Thống kê

    Đang truy cậpĐang truy cập : 33

    Máy chủ tìm kiếm : 2

    Khách viếng thăm : 31


    Hôm nayHôm nay : 3634

    Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 47931

    Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3537462

    Thành viên đăng nhập

    Download văn bản