Luật doanh nghiệp

Sở hữu trí tuệ

Thuế và kế toán

Công bố TCCL

Giấy phép

Visa - hộ chiếu

Đất đai - thừa kế

Mã số - mã vạch

Báo giá dịch vụ

Trang nhất Home » Trang chủ » Đất đai - thừa kế » Tư vấn thừa kế

Thừa kế theo pháp luật

  • thừa kế theo pháp luật

    Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhưng việc hiểu và áp dụng những quy định đó trong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc trên thực tế còn nhiều bất cập. Những khó khăn thường được thể hiện trong việc xác định phải có những điều kiện gì thì di chúc mới được coi là hợp pháp, điều kiện của người lập di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội dung của di chúc và hình thức của di chúc. Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc còn có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
    1.Thừa kế theo pháp luật:
    Theo quy định của bộ luật dân sự , thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, trình tự theo quy định của pháp luật.
    Điều kiện thừa kế theo pháp luật: Người chết không để lại di chúc, di chúc không có hiệu lực, hay xảy ra tranh chấp giữa những người thừa kế.
    Những người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận. Vợ, chồng; Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi; Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau.
    thừa kế theo pháp luật
    2.Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật:
     Thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế di sản của người chết được quy định theo pháp luật. Không phải bất cứ những người nào thuộc diện thừa kế theo pháp luật đều được thừa kế cùng một lúc, mà là được pháp luật phân biệt thành 3 hàng thừa kế:
    1.       Hàng thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
    2.       Hàng thứ hai: ông, bà nội, ông, bà ngoại, anh, chị, em ruột của người chết
    3.       Hàng thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột (điều 679 Bộ luật dân sự). Những người có cùng một HTK được hưởng phần di sản ngang nhau.
    Trong trường hợp không có người thừa kế hàng thứ nhất hoặc những người thừa kế ở hàng này đều không có quyền hưởng di sản hoặc bị truất quyền hưởng di sản, hoặc khước từ quyền hưởng di sản thì những người ở hàng thừa kế thứ 2 được hưởng di sản.
    Trong trường hợp không có người thừa kế ở hàng thứ nhất và hàng thứ 2 hoặc những người ở hàng thừa kế này đều không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản, hoặc khước từ quyền hưởng di sản thì những người ở hàng thứ 3 được hưởng di sản.
    Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Thủ tục khai nhận di sản thừa kế được thực hiện theo quy định của pháp luật
    Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

    Tác giả bài viết: Phòng Doanh Nghiệp

    Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
    Click để đánh giá bài viết
    hamythanhvy - 10/06/2014 10:53
    Luật sư tư vấn giúp tôi trường hợp như sau:

    Bố mẹ tôi có 1 mảnh đất do bố mẹ đứng tên, bố tôi mất năm 2010. Hiện nay, mẹ tôi muốn chia mảnh đất cho 2 anh em tôi. Cách đây mấy ngày, UBND xã (bên địa chính về đo đạc lại đất của chúng tôi với mục đích đo đạc sơ đồ đất đưa vào sổ đỏ vì sổ đỏ cũ không có bản đồ địa chính và có đo làm 2 mảnh đất cho tôi và em trai). Tôi có một số thắc mắc sau:
    1/ Việc UBND đo đạc như vậy là tách thửa cho hai anh em tôi phải không?
    2/ Nếu không phải thì tôi cần làm thủ tục gì để mỗi anh em có 1 phần đất theo mẹ tôi cho.

    Tôi chân thành cảm ơn!

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

     

    Thăm dò ý kiến

    Bạn biết tới văn phòng luật VNS ở đâu ?

    Internet

    Báo chí, Tivi

    Có người giới thiệu

    Các nguồn khác

    Tất cả các ý kiến trên

    Thống kê

    Đang truy cậpĐang truy cập : 39

    Máy chủ tìm kiếm : 19

    Khách viếng thăm : 20


    Hôm nayHôm nay : 135

    Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 82659

    Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3656229

    Thành viên đăng nhập

    Download văn bản