Luật doanh nghiệp

Sở hữu trí tuệ

Thuế và kế toán

Công bố TCCL

Giấy phép

Visa - hộ chiếu

Đất đai - thừa kế

Mã số - mã vạch

Báo giá dịch vụ

Trang nhất Home » Trang chủ » Luật doanh nghiệp » Thành lập doanh nghiệp

Vấn đề về vốn trong công ty Cổ Phần

  • thành lập công ty cổ phần

    Vốn trong công ty cổ phần được hình thành dựa trên sự đóng góp của các thành viên, vốn được chia thành từng phần nhỏ, được gọi là cổ phần. Thành viên góp vốn thành lập công ty là cổ đông trong công ty, có quyền hạn và trách nhiệm theo cổ phần vốn góp.
    Ngoài nguồn vốn mà các cổ đông góp vốn vào công ty thì công ty cổ phần còn có vốn tín dụng (vốn vay của công ty). Nguồn vốn tín dụng được hình thành từ việc đi vay với các hình thức như vay ngân hàng, vay của tổ chức, cá nhân.. Tuy nhiên để tạo thế mạnh về tài chính và niềm tin đối với đối tác thì công ty cổ phần cần lưu ý đến tỉ lệ vốn vay trong nguồn vốn của công ty.
    Công ty cổ phần có hai cách để huy động vốn là tăng vốn của cổ đông và tăng vốn vay bằng cách phát hành cổ phiếu (tăng vốn của chủ sở hữu) và phát hành trái phiếu, vay ngân hàng, tín dụng thuê mua (tăng vốn vay).
    Đặc trưng trong vấn đề huy động vốn của Công ty cổ phần là “Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn” (khoản 3, điều 77 Luật Doanh nghiệp), trong khi đó thì doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán, còn công ty TNHH được phát hành trái phiếu nhưng không được phát hành cổ phần. Việc phát hành cổ phiếu là ưu thế lớn nhất của Công ty cổ phần nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng, huy động hiệu quả được lượng vốn góp lớn. Phát hành cổ phiếu sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu của công ty, tăng độ tín nhiệm và giảm thiểu khả năng phá sản của công ty cổ phần.
    Cổ đông trong công ty được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 85 Luật Doanh nghiệp. Việc tự do chuyển nhượng cổ phần đã làm cho phạm vi đối tượng được tham gia vào công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần. Cũng theo quy định của pháp luật thì cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho người khác sau thời hạn 3 năm kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận ĐKKD nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Điều này một mặt bảo vệ quyền lợi của cổ đông sáng lập, mặt khác cũng là để ràng buộc trách nhiệm của cổ đông sáng lập với công ty, không được tùy ý từ bỏ công ty khi công ty mới thành lập hoặc không được sự đồng ý của các cổ đông khác.
    Các dịch vụ khác: công bố thực phẩm, thành lập hộ kinh doanh cá thể

    Tác giả bài viết: Phòng Doanh Nghiệp

    Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá
    Click để đánh giá bài viết

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

     

    Thăm dò ý kiến

    Bạn biết tới văn phòng luật VNS ở đâu ?

    Internet

    Báo chí, Tivi

    Có người giới thiệu

    Các nguồn khác

    Tất cả các ý kiến trên

    Thống kê

    Đang truy cậpĐang truy cập : 46

    Máy chủ tìm kiếm : 25

    Khách viếng thăm : 21


    Hôm nayHôm nay : 145

    Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 82669

    Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3656239

    Thành viên đăng nhập

    Download văn bản